Hướng dẫn về tiền lương và các khoản phụ cấp làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc theo Công văn 1198 (Hình từ Internet)

Hướng dẫn về tiền lương và các khoản phụ cấp làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc theo Công văn 1198

Cục Tiền lương và Bảo hiểm xã hội ban hành Công văn 1198/CTL&-BHXH-BHXH về hướng dẫn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Ảnh minh họa.

Nhận định về tội ‘Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản"

Tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” được quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Đây là hành vi của một người sau khi được giao tài sản hợp pháp thông qua hợp đồng hoặc thỏa thuận (như vay, mượn, thuê, nhận giữ hộ, nhận để làm dịch vụ…) đã dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó; hoặc đến hạn trả lại tài sản nhưng cố tình không trả, không thực hiện nghĩa vụ tài chính nhằm chiếm đoạt tài sản.

Bỏ Công an huyện: Những thủ tục được chuyển về công an xã từ 01/03/2025

Từ ngày 01/3/2025, theo Thông tư 67/2023/TT-BCA của Bộ Công an (quy định về phân cấp, phân quyền trong quản lý hành chính về trật tự xã hội), nhiều thủ tục hành chính trước đây do Công an cấp huyện giải quyết sẽ được chuyển về Công an xã, phường, thị trấn để tạo thuận lợi cho người dân.
LUẬT ĐẤT ĐAI 2024

LUẬT ĐẤT ĐAI 2024

Luật Đất đai 2024 được Quốc hội khóa XV thông qua ngày 18/01/2024, chính thức có hiệu lực từ 01/01/2025. Luật gồm 16 chương, 260 điều, là văn bản pháp lý quan trọng điều chỉnh toàn diện các quan hệ về quản lý, sử dụng đất đai tại Việt Nam. Một số điểm mới nổi bật là: mở rộng hạn mức nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp; quy định rõ hơn về thu hồi, bồi thường, tái định cư; tăng cường công khai, minh bạch trong định giá đất; khuyến khích ứng dụng công nghệ số trong quản lý đất đai. Luật Đất đai 2024 được kỳ vọng sẽ tạo hành lang pháp lý minh bạch, thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển lành mạnh, đồng thời bảo đảm tốt hơn quyền lợi hợp pháp của người dân và doanh nghiệp.
Luật đất đai 2013

Luật đất đai 2013

Luật Đất đai 2013 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 29/11/2013, có hiệu lực từ 01/7/2014. Luật gồm 14 chương, 212 điều, là cơ sở pháp lý quan trọng trong quản lý và sử dụng đất đai tại Việt Nam. Một số nội dung nổi bật của Luật là: quy định rõ thẩm quyền quản lý đất đai của Nhà nước; nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất; cơ chế giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Luật Đất đai 2013 đã góp phần tăng cường minh bạch, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, đồng thời bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.
Nghị quyết 44/NQ-CP ngày 07/03/2025 miễn thị thực ...

Nghị quyết 44/NQ-CP ngày 07/03/2025 miễn thị thực ...

Nghị quyết 44/NQ-CP ngày 07/3/2025 của Chính phủ quy định về việc miễn thị thực đơn phương cho công dân các nước: Đức, Pháp, Italia, Tây Ban Nha, Vương quốc Anh và Bắc Ireland, Liên bang Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy và Phần Lan khi nhập cảnh Việt Nam. Theo đó, công dân các nước này được miễn thị thực với thời hạn tạm trú 45 ngày kể từ ngày nhập cảnh, không phân biệt loại hộ chiếu, mục đích nhập cảnh, nếu tuân thủ quy định pháp luật Việt Nam. Chính sách này thể hiện sự cởi mở trong hội nhập, góp phần thúc đẩy hợp tác quốc tế, giao lưu nhân dân và phát triển du lịch Việt Nam.
Luật Đất đai 1993

Luật Đất đai 1993

Luật Đất đai 1993 (số 24-L/CTN ngày 14/7/1993) do Quốc hội khóa IX thông qua, có hiệu lực từ ngày 15/10/1993. Đây là đạo luật quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới trong hệ thống pháp luật đất đai của Việt Nam sau thời kỳ đổi mới. Luật quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, lần đầu tiên thừa nhận hộ gia đình, cá nhân là chủ thể được Nhà nước giao đất ổn định, lâu dài. Đồng thời, Luật mở rộng các quyền của người sử dụng đất như chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất. Với việc ban hành Luật Đất đai 1993, Nhà nước đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc hình thành và phát triển thị trường quyền sử dụng đất ở Việt Nam.
Luật Đất đai 1987

Luật Đất đai 1987

Luật Đất đai 1987 là đạo luật đất đai đầu tiên của Việt Nam, được Quốc hội khóa VIII thông qua ngày 29/12/1987, có hiệu lực từ ngày 08/01/1988. Luật khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý, đồng thời quy định việc giao đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng. Tuy nhiên, tại thời điểm này, người sử dụng đất chưa có quyền chuyển nhượng, thế chấp, thừa kế mà chủ yếu chỉ có quyền sử dụng trong phạm vi được giao. Việc ban hành Luật Đất đai 1987 đã đặt nền móng pháp lý quan trọng cho công tác quản lý và sử dụng đất trong giai đoạn đầu đổi mới.
Bộ Luật Lao động 2012

Bộ Luật Lao động 2012

Bộ luật Lao động 2012 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 18/6/2012, có hiệu lực từ 01/5/2013. Bộ luật gồm 17 chương, 242 điều, là văn bản pháp lý quan trọng điều chỉnh quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động. Nội dung nổi bật của Bộ luật bao gồm: quy định về hợp đồng lao động, tiền lương, thời giờ làm việc – nghỉ ngơi, kỷ luật lao động, an toàn vệ sinh lao động, bảo hiểm xã hội, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động. Điểm mới đáng chú ý là mở rộng đối tượng điều chỉnh, tăng cường bảo vệ quyền lợi người lao động, đặc biệt là lao động nữ và lao động chưa thành niên. Bộ luật Lao động 2012 đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng thị trường lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định ở Việt Nam.
Bộ Luật Lao động sửa đổi 2002

Bộ Luật Lao động sửa đổi 2002

Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung năm 2002 được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 02/4/2002, nhằm điều chỉnh, hoàn thiện một số quy định của Bộ luật Lao động 1994 cho phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế. Nội dung sửa đổi tập trung vào các vấn đề như: hợp đồng lao động, thời giờ làm việc – nghỉ ngơi, tiền lương, kỷ luật lao động, giải quyết tranh chấp lao động và vai trò của công đoàn. Việc sửa đổi năm 2002 đã góp phần tăng cường bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động hơn trong tổ chức, quản lý lao động. Đây cũng là bước trung gian quan trọng, đặt nền tảng cho những lần sửa đổi, bổ sung tiếp theo của Bộ luật Lao động.
Bộ luật lao động sửa đổi 2007

Bộ luật lao động sửa đổi 2007

Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung năm 2007 được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 02/4/2007, tiếp tục điều chỉnh một số nội dung của Bộ luật Lao động 1994 (đã từng được sửa đổi các năm 2002 và 2006). Lần sửa đổi này tập trung hoàn thiện các quy định liên quan đến hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, tranh chấp và đình công, quyền và nghĩa vụ của tổ chức công đoàn, cũng như một số chính sách đối với lao động nữ và lao động chưa thành niên. Những sửa đổi năm 2007 đã góp phần tạo hành lang pháp lý chặt chẽ hơn cho quan hệ lao động, tăng cường bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới.
Bộ Luật lao động sửa đổi 2006

Bộ Luật lao động sửa đổi 2006

Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung năm 2006 được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2006, tiếp tục điều chỉnh một số nội dung của Bộ luật Lao động 1994 sau lần sửa đổi năm 2002. Lần sửa đổi này tập trung chủ yếu vào việc hoàn thiện các quy định về hợp đồng lao động, quyền và nghĩa vụ của người lao động – người sử dụng lao động, chính sách đối với lao động nữ, lao động chưa thành niên, cũng như các quy định liên quan đến an toàn, vệ sinh lao động. Những điểm sửa đổi năm 2006 đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý quan hệ lao động, bảo đảm tốt hơn quyền lợi của người lao động, đồng thời phù hợp hơn với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam.
Bộ luật Lao động 1994

Bộ luật Lao động 1994

Bộ luật Lao động 1994 được Quốc hội khóa IX thông qua ngày 23/6/1994, có hiệu lực từ 01/01/1995. Đây là Bộ luật Lao động đầu tiên của Việt Nam, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong việc xây dựng khung pháp lý điều chỉnh quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bộ luật gồm 17 chương, 198 điều, quy định về hợp đồng lao động, tiền lương, thời giờ làm việc – nghỉ ngơi, kỷ luật lao động, an toàn vệ sinh lao động, vai trò của công đoàn và cơ chế giải quyết tranh chấp lao động. Sự ra đời của Bộ luật Lao động 1994 đã góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, đồng thời tạo hành lang pháp lý cho doanh nghiệp chủ động hơn trong tổ chức, quản lý lao động.
Bộ luật tố tụng dân sự 2015

Bộ luật tố tụng dân sự 2015

Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 25/11/2015, có hiệu lực từ 01/7/2016, thay thế cho Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011). Bộ luật gồm 10 phần, 42 chương, 517 điều, là cơ sở pháp lý quan trọng điều chỉnh trình tự, thủ tục khởi kiện, giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân – gia đình, kinh doanh – thương mại, lao động và thi hành án dân sự. Một số điểm mới nổi bật là: mở rộng phạm vi khởi kiện, bổ sung thủ tục rút gọn, tăng cường cơ chế tranh tụng tại tòa, áp dụng công nghệ thông tin trong tố tụng, nâng cao vai trò của Viện kiểm sát. Sự ra đời của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 góp phần bảo đảm công lý, quyền con người và quyền công dân, đồng thời nâng cao tính minh bạch, hiệu quả của hoạt động tư pháp.
Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi 2011

Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi 2011

Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 29/3/2011, có hiệu lực từ 01/01/2012. Đây là lần sửa đổi, bổ sung quan trọng của Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, nhằm khắc phục những bất cập trong thực tiễn áp dụng. Nội dung sửa đổi tập trung vào việc mở rộng thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với một số tranh chấp, bổ sung quy định về bảo đảm quyền tranh tụng, nâng cao trách nhiệm của Tòa án trong việc thu thập chứng cứ và bảo vệ quyền lợi của đương sự. Lần sửa đổi này cũng góp phần tăng cường tính minh bạch, công bằng trong giải quyết các vụ việc dân sự, tạo nền tảng cho việc ban hành Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 sau đó.
Bộ luật tố tụng dân sự 2004

Bộ luật tố tụng dân sự 2004

Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 15/6/2004, có hiệu lực từ 01/01/2005. Đây là bộ luật đầu tiên của Việt Nam quy định một cách hệ thống và toàn diện về trình tự, thủ tục khởi kiện, giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân – gia đình, kinh doanh – thương mại, lao động và thi hành án dân sự. Bộ luật gồm 36 chương, 418 điều, đặt nền móng quan trọng cho việc chuẩn hóa thủ tục tố tụng dân sự, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Việc ban hành Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tư pháp, thể chế hóa nguyên tắc tòa án bảo vệ công lý, quyền con người và quyền công dân, đồng thời đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong thời kỳ đổi mới.
Bộ luật hình sự sửa đổi 1997

Bộ luật hình sự sửa đổi 1997

Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 1997 được Quốc hội khóa X thông qua ngày 21/12/1999, có hiệu lực từ 01/7/2000 (nhiều tài liệu thường gọi là sửa đổi 1999, nhưng thực chất là sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự 1985). Đây là lần sửa đổi quan trọng nhằm khắc phục những bất cập sau hơn 10 năm áp dụng BLHS 1985, đồng thời phù hợp với bối cảnh đổi mới và hội nhập. Nội dung sửa đổi tập trung vào việc cụ thể hóa các tội phạm về kinh tế, chức vụ, ma túy; bổ sung trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân trong một số trường hợp; tăng cường bảo vệ quyền con người, quyền công dân; đồng thời điều chỉnh chính sách hình phạt theo hướng nhân đạo, khoan hồng hơn. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng đặt nền móng cho việc ban hành Bộ luật Hình sự 1999 sau đó.
Bộ luật hình sự sửa đổi 1992

Bộ luật hình sự sửa đổi 1992

Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 1992 được Quốc hội khóa IX thông qua ngày 22/12/1992, là lần sửa đổi đầu tiên của Bộ luật Hình sự 1985. Việc sửa đổi tập trung vào một số quy định liên quan đến các tội phạm về kinh tế, trật tự quản lý kinh tế – xã hội và hình phạt, nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Lần sửa đổi này cũng góp phần hoàn thiện chính sách hình sự, tăng cường đấu tranh phòng, chống tội phạm, đồng thời bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong giai đoạn đầu đổi mới đất nước. Đây là bước chuẩn bị quan trọng cho những lần sửa đổi toàn diện hơn của Bộ luật Hình sự vào các năm sau.
Bộ luật hình sự sửa đổi 1991

Bộ luật hình sự sửa đổi 1991

Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 1991 được Quốc hội khóa VIII thông qua ngày 12/8/1991, là lần sửa đổi đầu tiên của Bộ luật Hình sự 1985. Nội dung sửa đổi tập trung vào một số quy định liên quan đến tội phạm kinh tế, trật tự quản lý xã hội và chính sách hình phạt, nhằm phù hợp hơn với bối cảnh đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Lần sửa đổi này có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, đồng thời thể hiện bước điều chỉnh chính sách hình sự của Nhà nước cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội lúc bấy giờ. Đây cũng là cơ sở cho những lần sửa đổi tiếp theo vào năm 1992 và 1997, trước khi ban hành Bộ luật Hình sự 1999.
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây